Saturday, February 24, 20246:39 PM(View: 66)
Ngày hôm qua, tôi gọi cho một chị bạn là chị Kha. Chị là người chuyên môn làm thịt chà bông, thịt bò khô và chả cá để bán và bỏ mối. Chị Kha là người làm những món ăn này rất ngon và tuong đối rẻ hơn những cửa tiệm bán lẻ.
Saturday, February 24, 20245:21 PM(View: 64)
Sau đây là cảm nghiệm của bà Anna: Trong suốt 30 năm qua, vợ chồng tôi luôn cầu nguyện cho các con biết tri ân và cảm tạ Chúa, biết cầu nguyện, xưng tội, chịu lễ và biết kính trọng các Bí Tích Thánh mà Giáo Hội đã ban cho nhân loại.
Wednesday, February 21, 20248:07 PM(View: 69)
Nguồn: Childrenofmedjugorje.com Sau đây là lời khuyên cho mùa Chay Thánh. Chúng ta đáp lời kêu gọi của Đức Mẹ. Chúng ta hãy tỏ lòng biết ơn Thiên Chúa. Hãy dâng mỗi một ngày đời lên Chúa. Hãy luôn biết cảm tạ và biết ơn Thiên Chúa.
Wednesday, February 21, 20247:20 PM(View: 64)
Nguồn: Childrenofmedjugorje.com Thánh John Vianney đã nói trong một bài giảng rằng: "Người cầu nguyện là người có nhiều uy quyền."
Wednesday, February 21, 20246:30 PM(View: 53)
Nguồn: Childrenofmedjugorje.com Chúng ta hãy cố gắng trở lại với việc Sùng Kính Năm Ngày Thứ Bẩy Đầu Tháng. Mỗi người trong chúng ta đều có thể hoạt động cho hoà bình. Chúng ta lhãy cố gắng làm với trọn tâm hồn và vì lợi ích của thế giới.
Wednesday, February 21, 202412:28 PM(View: 56)
Nguồn: Childrenofmedjugorje.com Có hai loại vũ khí mà còn mãi. Lời Đức Mẹ ban từ Medjugorje là hãy cầu nguyện. Đó là ao ước lớn nhất của Mẹ Maria dành cho các con của Mẹ. Nếu chúng ta không biết cầu nguyện thì sẽ có những hậu quả tai hại. Chúng ta hãy cũng xem lại cuộc hiện ra tại vùng Akita, nước Nhật Bản.
Tuesday, February 20, 20249:24 PM(View: 60)
Nguồn: Spiritdaily.com Có rất nhiều trường hợp mà những người gần chết được nhìn thấy cuộc đời của mình diễn ra như những cuốn phim được quay lại. Có người gọi đó là cuộc phán xét. Có người gọi đó là một tiến trình học hỏi. Họ cũng nói rằng có Thiên Đàng, có hoả ngục và có cả luyện ngục.
Tuesday, February 20, 20242:50 PM(View: 64)
Nguồn: Spiritdaily.com Chúng ta đang sống trong mùa Chay. Đây là mùa của sự hy sinh và bố thí. Đó cũng là việc thể hiện đức bác ái và lòng quảng đại.
Tuesday, February 20, 20242:27 PM(View: 53)
Nguồn: Spiritdaily.com Các y tá luôn chăm sóc tốt cho bịnh nhân của họ. Họ cũng thường là người chứng cho những hiện tượng siêu nhiên. Bởi vì họ luôn túc trực tại các bịnh viện và chăm sóc các bịnh nhân già và trẻ của họ...
Wednesday, February 14, 20242:13 PM(View: 89)
Nguồn: Spiritdaily.com Câu chuyện về cảm nghiệm của cha Mike làm cho mọi người rất cảm động. Cha quả là một vị linh mục thánh thiện. Cha cố gắng chịu đau đớn vì bịnh ung thư nhưng cha lại có một niềm vui lớn lao của một người biết hy sinh vì tha nhân. Vậy liệu chúng ta có được niềm vui lớn lao ấy không?

LỜI CHÚA: LƯƠNG THỰC HẰNG NGÀY CHÚA NHẬT TUẦN XXIX THƯỜNG NIÊN, NĂM B SỐNG LỜI CHÚA TIN MỪNG : Mc 10,35-45

Sunday, October 17, 20218:11 AM(View: 826)

17-10aLỜI CHÚA: LƯƠNG THỰC HẰNG NGÀY

CHÚA NHẬT TUẦN XXIX THƯỜNG NIÊN, NĂM B

SỐNG LỜI CHÚA

TIN MỪNG : Mc 10,35-45

Con Người đến để hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.

35 Khi ấy, hai người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an đến gần Đức Giê-su và nói : “Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây.” 36 Người hỏi : “Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì ?” 37 Các ông thưa : “Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang.” 38 Đức Giê-su bảo : “Các anh không biết các anh xin gì ! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không ?” 39 Các ông đáp : “Thưa được.” Đức Giê-su bảo : “Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống ; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu. 40 Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được.”

41 Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Gia-cô-bê và ông Gio-an. 42 Đức Giê-su gọi các ông lại và nói : “Anh em biết : những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. 43 Nhưng giữa anh em thì không được như vậy : ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em ; 44 ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người. 45 Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người.”

SUY NIỆM-PHỤC VỤ

Trong truyền thống của Hoa Kỳ, nước này có khoảng 26 cuộc tranh luận giữa các ứng cử viên tranh chức tổng thống. Các ứng cử viên luôn phải chuẩn bị kiến thức chu đáo về mọi lãnh vực, các chính sách, quan điểm cá nhân để tranh luận với đối thủ,... Và để chiến thắng, người ta sẵn sàng tìm kiếm, moi móc những khuyết điểm của nhau ra trước công chúng để nhằm hạ uy tín đối thủ.

Hôm nay, hai môn đệ của Đức Giêsu là Giacôbê và Gioan cũng đang vướng phải cơn cám dỗ của địa vị và quyền lực. Dường như tất cả các môn đệ, những người kề cận với Đức Giêsu, đã không thoát khỏi cơn cám dỗ mong được ngồi vào bên hữu và bên tả Thầy.

Tuy nhiên, Đức Giêsu đã làm thay đổi những suy nghĩ và toan tính của các ông: “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đày tớ mọi người.” Chính Đức Giêsu đã đi bước trước để nêu gương phục vụ cho các ông. Người đã phục vụ theo cung cách như một người tôi tớ, quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ và sẵn sàng để cho mình bị sỉ nhục và bị giết chết. Noi gương Đức Giêsu, các môn đệ được mời gọi hãy đi và phục vụ người khác như vậy.

Đó là dấu chỉ đặc trưng mà mỗi người Kitô hữu được mời gọi để sống ơn gọi của mình. Trên bước đường dương thế này, họ có thể gặp nguy hiểm, bị tù tội, thậm chí bị giết chết do những hoàn cảnh hay bởi những người mình nhiệt tâm phục vụ. Phải chăng đó cũng là sứ mạng và thách đố của Giáo hội? Bất cứ ai, dù là giám mục, linh mục, tu sĩ hay giáo dân, tất cả đều được mời gọi bắt chước Đức Kitô: phụng sự Thiên Chúa và phục vụ tha nhân. Liệu rằng, chúng ta có sẵn sàng uống chén đắng với Đức Giêsu qua việc can đảm yêu thương và dấn thân phục vụ hết mình vì hạnh phúc Nước Trời.

(Chấm nối chấm – Học Viện Đaminh)

LỜI NGUYỆN TRONG NGÀY

Lạy Chúa, xin dạy chúng con luôn biết quảng đại hết lòng phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân một cách vô vị lợi và không cần đền đáp. Amen.

TU ĐỨC SỐNG ĐẠO-KINH MÂN CÔI - NGUỒN GỐC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN

(Tiếp theo Chúa Nhật Tuần trước)

II. VÀI SUY TƯ

Vì thời giờ ngắn ngủi, tôi chỉ xin đưa vài suy tư ngắn ngủi, xoay quanh hai mục: 1/ bản chất Kinh Mân Côi. 2/ Kinh Mân Côi trong bối cảnh Việt Nam.

A. Bản chất Kinh Mân Côi

Chúng tôi chỉ muốn dừng lại ở hai điểm: 1/ hình thức cầu nguyện, 2/ đối tượng cầu nguyện

1/ Hình thức cầu nguyện

Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo kê ra ba hình thức cầu nguyện: khẩu nguyện (số 2700-2703); suy niệm (số 2705-2708); chiêm ngắm (số 2709-2719). Kinh Mân Côi bao gồm cả ba hình thức ấy. Quả là tuyệt vời! Tông thư Rosarium Virginis Mariae của ĐTC Gioan Phaolô II đã vạch ra 5 chiều kích của việc chiêm ngắm Kitô giáo như sau (số 13-17):

a) Hồi tưởng công trình của Thiên Chúa;
b) Học hỏi Chúa Kitô;
c) Họa theo Chúa Kitô;
d) Khẩn cầu Chúa Kitô;
e) Loan báo Chúa Kitô.

2/ Đối tượng cầu nguyện

Đối tượng của việc chiêm ngắm là mầu nhiệm Đức Kitô. Như đã nói trên đây, có một sự chuyển hướng quan trọng trong việc xác định bản chất của kinh Mân Côi. Vào lúc đầu, kinh này được quan niệm như là một tràng hoa hồng dâng kính Mẹ Maria (bộ thánh vịnh 150 kinh Kính Mừng); nhưng ĐTC Phaolô VI và Gioan Phaolô II nhấn mạnh rằng đây là một việc chiêm ngắm các mầu nhiệm Đức Kitô, với cặp mắt và trái tim của Mẹ Maria. Lối giải thích này hợp lý hơn bởi vì trong khi năm mầu nhiệm mùa Vui, ta thấy có sự hiện diện của Mẹ, nhưng qua các mầu nhiệm mùa Sáng (ngoại trừ tiệc cưới Cana) và mùa Thương thì Mẹ rút vào bóng tối.

Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo đã dành các số 512-560 để bàn về đề tài “Các mầu nhiệm cuộc đời Đức Kitô”: các biến cố cuộc đời Đức Kitô mặc khải Thiên Chúa và thực hiện ơn cứu độ nhân loại. Chúng tôi chỉ muốn ghi nhận bốn điểm

a) Trước đây, nhiều khi chúng ta chú trọng đến chi tiết của 15 mầu nhiệm (mùa Vui – Thương – Mừng) mà quên rằng tất cả xoay quanh ba trục chính của công trình Đức Kitô, đó là: mầu nhiệm Nhập thể, Thập giá và Phục sinh (hay Vượt qua).

b) Trong lịch sử thần học, ngay từ thời các giáo phụ, có hai điểm nhấn khác nhau về ý nghĩa ơn cứu độ. Bên Đông phương, ơn cứu độ hệ tại việc “Con Thiên Chúa làm người ngõ hầu con người được làm con Thiên Chúa”; do đó ơn cứu độ được thực hiện kể từ lúc Nhập thể. Bên Tây phương, ơn cứu độ hệ tại con người tội lỗi được hòa giải với Thiên Chúa; và điều này được thực hiện nơi thập giá của Đức Kitô (cuộc phục sinh không được nhấn mạnh lắm)[12].

c) Có một khoảng trống giữa việc nhập thể và vượt qua của Đức Kitô. Cuộc đời ẩn dật tại Nazareth và cuộc đời công khai giảng đạo có góp phần vào công trình cứu độ không? Lấy lại tư tưởng của thánh Tôma Aquinô, sách Giáo lý Hội thánh Công giáo coi cuộc đời ẩn dật, các lời giảng, các việc thương xót chữa lành cũng mang tính cách cứu độ (số 517; 535-560). Đó là lý do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã chen thêm “Năm sự sáng” vào kinh Mân Côi.

d) Dựa theo tiêu chuẩn nào để “chọn lọc” 5 mầu nhiệm cuộc đời công khai của Chúa Kitô? Thật là khó nói. Người ta nhận thấy rằng ngay từ năm 1957, thánh Georges Preca, một linh mục hăng say với công cuộc huấn giáo ở Malta (1880-1962), đã viết một cuốn sách về Năm mầu nhiệm ánh sáng: (1) Đức Giêsu lãnh phép rửa tại sông Giordan và được đưa vào hoang địa; (2) Đức Giêsu tự mặc khải là Thiên Chúa bằng lời nói và phép lạ; (3) Đức Giêsu giảng dạy các mối phúc trên núi; (4) Đức Giêsu biến hình trên núi; (5) Đức Giêsu dùng bữa tiệc lý với các tông đồ[13]. Phải chăng Đức Gioan Phaolo II đã được gợi hứng từ đây?

B. Trong bối cảnh Việt Nam

Chúng tôi muốn thêm bốn nhận xét về việc chuyển dịch các từ ngữ liên quan đến kinh Mân Côi, các mầu nhiệm, các hoa trái và cuối cùng Kinh Kính Mừng.

1/ Tên gọi của kinh

Theo ông Nguyễn Cung Thông[14], lúc đầu, ở nước ta, kinh này được gọi là kinh Rosa (hoặc Rosario). Mãi đến từ điển Taberd (1838) mới thấy tên gọi “Hoa Môi khôi”. Dù sao nên biết ở miền Trung và Nam, từ “Môi khôi” thông dụng hơn, còn miền Bắc thì quen gọi là “Mân Côi, hay Văn côi” từ thế kỷ XIX. Những từ này gốc Hán Việt và có thể đọc theo nhiều cách khác nhau: Mai (hoặc Mân, Môi) là hoa hồng, bông hường; Côi (Khôi) là đá quý.

2/ Tên gọi ba mùa

Chúng ta quen gọi năm sự Vui -Thương - Mừng. Nhưng thử hỏi: có cái vui nào mà chẳng mừng, và có cái mừng nào mà chẳng vui? Thực ra nếu muốn dịch sát nghĩa, thì phải gọi là các mầu nhiệm “Vui mừng” (gaudiosa, joyful) – “Đau thương” (sầu khổ, dolorosa, sorrowful) – “Vinh hiển” (vinh quang: gloriosa, glorious).

3/ Các hoa trái

Nếu ai có dịp tham dự buổi đọc kinh Mân Côi ở nước ngoài, thì sẽ thấy người ta chỉ xướng lên mầu nhiệm (thí dụ Truyền tin cho Đức Mẹ); ở Việt nam còn thêm “ta hãy xin cho được ở khiêm nhường”. Tục lệ này bắt nguồn từ đâu vậy? Sau khi đi tra cứu, tôi thấy rằng đây không phải là sáng kiến của dân ta, nhưng là do thánh Louis Marie Grigion de Montfort, (Le Secret Admirable du Très Saint Rosaire)[15]. Sau khi suy niệm một mầu nhiệm, ngài thêm ý nguyện xin bắt chước bằng việc thực hành một nhân đức, được gọi là “hoa trái” (fruits). Thực ra danh sách các hoa trái trong nguyên bản rộng hơn là tập tục của Việt Nam. Xin trưng dẫn để đối chiếu[16].

a) Các mầu nhiệm vui mừng: Khiêm nhường; Bác ái với tha nhân; Thoát ly khỏi của cái thế gian, yêu mến đức thanh bần và những người nghèo; Vâng lời (hoặc: Thanh tịnh xác hồn); Sự khôn ngoan của Thiên Chúa (hoặc: niềm vui gặp gỡ Chúa Giêsu).

b) Các mầu nhiệm đau thương: Thống hối tội lỗi (hoặc: vâng theo ý Chúa); Khổ chế giác quan; Khinh chê thế gian (hoặc lòng can đảm); Kiên nhẫn vác các thánh giá của mình; Cầu xin cho các tội nhân được hoán cải, người lành được bền tâm; Các linh hồn trong luyện tội được nâng đỡ (hoặc: tha thứ; chết lành).

c) Các mầu nhiệm hiển vinh: Lòng yêu mến Thiên Chúa và nhiệt tâm phụng sự Ngài (hoặc: đức tin); Ước mong quê thật trên trời (hoặc: đức hy vọng); Chúa Thánh Linh ngự xuống tâm hồn chúng ta (hoặc: đức mến, ơn thâm hiểu); Lòng thảo hiếu với Đức Mẹ; Bền đỗ trong ân sủng và xin được hạnh phúc trên thiên đàng (hoặc: tin tưởng vào lời chuyển cầu của Đức Mẹ).

Dĩ nhiên, không ai cấm chúng ta thay đổi các ý chỉ này. Chẳng hạn như khi chiêm ngắm mầu nhiệm truyền tin chúng ta có thể xin cho biết đáp lại lời Fiat như Đức Mẹ, hoặc sống sự tự hủy (kenosis) của Đức Kitô.

4/ Kinh Kính Mừng

Kinh Kính Mừng đã mất hơn 15 thế kỷ mới có hình thức nhất định. Sang nước Việt Nam, cũng cần ba thế kỷ mới đạt được bản dịch như ngày nay[17].
Chúng tôi chỉ trưng dẫn vài mẫu tượng trưng.

a) Tiền bán thế kỷ XVII: “A Ve Ma Ri A, đầy ga ra sa, Chúa Dêu ở cùng Bà, nữ trung Bà có phúc lạ, Bà thai tử Giê Su , Người là Mẹ Đức Chúa Trời, thì xin cầu cho chúng tôi vì là kẻ có tội, lại xin phù hộ khi còn sống và khi rình qua đời”.

b) Năm 1869: “A Ve Ma Ri A đầy ga ra sa, Chúa Deo ở cùng bà, nữ trung bà có phúc lạ, bà thai tử Giê Su gồm phúc lạ. Sang Ta Ma Ri A đức mẹ chúa Deo, cầu cho chúng tôi kẻ có tội khi nay cập thần đẳng tử hầu”.

c) Đầu thế kỷ XX: “Ave Maria, đầy ga-la-ti-a, Chúa Dêu ở cùng bà, nữ trung bà có phước lạ, thai tử Giê-su gồm phước lạ. Xăng-ta Maria, Đức Mẹ Chúa Dêu, cầu cho chúng tôi, khi nay và cập thần đẳng tử hậu. Amen”.

d) Giữa thế kỷ XX (sau công đồng Đông Dương): “Kính Mừng Maria đầy ơn phúc (phước), Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ, hơn mọi người Nữ, và Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ. Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi này (nay) và trong giờ lâm tử. Amen”.

Điều chúng tôi muốn lưu ý là “benedictus” và “benedicta” trong lời chào của bà Elizabeth (Lc 2,42) được dịch là “có phúc lạ”. Nhóm Các Giờ kinh phụng vụ dịch sát nghĩa hơn là “được chúc phúc” (Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc). Theo nghĩa này, người ta có thể xen thêm “và Giêsu, Đấng (Bà đã cưu mang, Đấng Bà mang đến viếng thăm bà Ysave, Đấng Bà đã sinh ra, Đấng được dân hiến cho Chúa Cha, Đấng dạy dỗ trong đền thờ, vv.) được chúc phúc”.

KẾT LUẬN: KINH MÂN CÔI VỚI DÒNG ĐA MINH

Như đã nói ở đầu, mỗi khi nói đến nguồn gốc Kinh Mân Côi, người ta không thể nào bỏ qua thánh Đa Minh. Liệu những nghiên cứu lịch sử gần đây có làm lung lay mối tương quan ấy không?

Xin thưa rằng kinh Mân Côi không do Đức Mẹ trao cho thánh Đa Minh, nhưng nó trở thành gia sản của Dòng. Ta có thể chứng tỏ điều này qua nỗ lực truyền bá kinh Mân Côi kể từ cha Alain de la Roche, xuyên qua các Hiệp Hội Mân Côi[18]. Trong cuốn “Tìm hiểu Dòng Đa Minh”, tôi cũng đã trình bày những sáng kiến khác trong thế kỷ XX nhằm cổ vũ kinh này: hội Mân Côi sống (do chị Pauline Jaricot sáng lập), hội Mân Côi liên lỉ (do cha Augustin Chardon), Equipes du Rosaire, vv.[19]. Về mặt cơ chế, tại Trung ương của Dòng có một vị Tổng đặc trách Kinh Mân Côi, và mỗi tỉnh dòng cũng có một đặc trách cổ võ kinh Mân Côi[20].

Dù sao, với hướng đi của Huấn quyền ngày nay, kinh Mân Côi không chỉ là một việc đạo đức nội bộ, nhưng được gắn liền với trung tâm của Kitô giáo, tức là các mầu nhiệm của Chúa Kitô. Rao giảng kinh Mân Côi cũng là rao giảng Tin Mừng, bằng ngôn ngữ sát với đời sống thường ngày. Cầu nguyện kinh Mân Côi cũng mang một hình thức tương tự như cử hành phụng vụ và lectio divina. Thật là một gia sản đáng cho chúng ta cần trân trọng, đặc biệt khi những cổ động viện của kinh Mân Côi không chỉ là các giáo hoàng nhưng nhất là chính Đức Mẹ Maria khi hiện ra ở Lourdes và Fatima
.

Thư mục

(Những tác phẩm bàn về nguồn gốc kinh Mân Côi)

Thomas Esser, Unserer lieben Frauen Rosenkranz, Schöningh, Paderbon, 1889.

Franz Michel Willam, Die Geschichte und Gebetsschule des Rosenkranzes, Herder, Wien 1948.

Stefano Orlandi (a cura di), Libro del Rosario della Gloriosa Vergine Maria, Centro Internazionale Domenicano Rosariano, Roma, 1965.

Gilles Gérard Meersseman, Ordo Fraternitatis. Confraternite e pietà dei laici nel Medioevo, 3 voll., Herder, Roma 1977

Riccardo Barile, Il Rosario della Vergine, ESD Bologna 1990.

Anne Winston-Allen, Stories of the Rose. The Making of the Rosary in the Middle Ages, Penn State University Press, University Park (Pennsylvania) 1997.

Boguslaw Kochaniewicz, The contribution of the Dominicans in the development of the Rosary, in: Angelicum 81 (2004), 377-403.

Nguồn: daminhvn.net (03.10.2021)

Tác giả: Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, O.P.

[12] X. Phan Tấn Thành, Thần học và mầu nhiệm cứu độ, Thời sự thần học số 90 (tháng 11 năm 2020), trang 86-139, đặc biệt trang 100-101.

[13] John Formosa and Anthony Cilia, St George Preca and the new Rosary mysteries, https://ocarm.org/en/item/3415-st-george-preca-the-new-rosary-mysteries

[14] Nguồn: https://cvdvn.net/2019/10/25/tieng-viet-thoi-lm-de-rhodes-trang-hot-chuoi-hot-chuoi-man-khoi-mai-khoi-moi-coi-phan-19

[15] Thánh Louis Marie Grignion de Monfort (1673-1716), nổi tiếng với cuốn sách “Thành thực sùng kính Đức Maria”, được ĐTC Gioan Phaolo II nhắc đến ở số 13 của tông thư về Kinh Mân Côi.

[16] Méthodes pour réciter le Rosaire (Saint Louis-Marie Grignion de Montfort) : christ-roi.net

[17] Nguyễn Cung Thông, “Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes – các khuynh hướng dịch tiếng nước ngoài ra tiếng Việt: trường hợp bản Kinh Kính Mừng” (phần 26), nghiencuulichsu.com

[18] Boguslaw Kochaniewicz, The contribution of the Dominicans in the development of the Rosary, in: Angelicum 81 (2004), 377-403.

[19] Xc. Tim hiểu Dòng Đa Minh, Học viện Đa Minh 2016, trang 253-256. Ở trang 256 có thư tịch liệt kê những văn kiện của các bề trên tổng quyền từ năm 1963 đến năm 2010.

[20] Đặc trách của tỉnh dòng Việt Nam hiện nay là anh Phanxicô Xavie Trần Kim Ngọc, và một trong những phương tiện cổ động là mạng lưới hoimancoi.net và kinhmancoi.net